Hướng dẫn học ngoại ngữ trực tuyến - Phần 4

Chủ nhật - 27/07/2014 22:46
4. Hướng dẫn học trực tuyến tại Việt Nam – đề xuất, khuyến nghị

Tại Việt Nam, việc sử dụng các hệ thống dạy học ngoại ngữ trực tuyến chưa mang tính hệ thống, mới chỉ là sáng kiến ứng dụng nhỏ lẻ tại một số trường đại học chuyên ngữ. Tại các trường phổ thông, các phần mềm dạy-học ngoại ngữ thường là phần mềm không nối mạng Internet (offline), dùng cho học sinh tự học hoặc học có sự hướng dẫn trực tiếp trên lớp của giáo viên (Eduplay cho khối mầm non, Phonics cho khối tiểu học, DynEd, Kids & Let's Go).

4.1. Dạy học trực tuyến trong môi trường đại học

Số lượng đề tài nghiên cứu thực tiễn (empirical research) về dạy-học ngoại ngữ trực tuyến tại Việt Nam thường do các giảng viên-nghiên cứu viên của các trường đại học thực hiện. Điều này cũng là dễ hiểu vì giảng dạy trực tuyến là một lĩnh vực mới, được ứng dụng ở các trường đại học nhiều hơn ở cấp phổ thông. Dưới đây là tóm tắt một số đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Trong luận văn về ứng dụng CNTT trong dạy-học ngoại ngữ, Do (2008) đã xây dựng một chương trình giảng dạy kết hợp các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và dạy thử nghiệm với 20 sinh viên tiếng Pháp năm thứ 2 của Trường Đại học Hà Nội. Nội dung dạy trực tuyến chủ yếu là các bài tập bổ trợ cho nội dung học trực tiếp trên lớp, được đưa lên phần mềm Moodle, nơi thầy và trò đã tận dụng tất cả các công cụ kỹ thuật của Moodle để nộp bài, chữa bài, trao đổi qua các câu hỏi và trả lời. Kết thúc khoá học thử nghiệm kéo dài gần 2 tháng, tất cả sinh viên đều hài lòng về các hoạt động hướng dẫn học của thầy hướng dẫn (cũng chính là nhà nghiên cứu). Thầy hướng dẫn đã thực hiện đầy đủ các vai trò theo quy định nhưng thừa nhận rằng công việc gặp khá nhiều khó khăn vì đây là lần đầu tiên sinh viên làm quen với hệ thống học trực tuyến với nhiều công cụ chưa bao giờ sử dụng. Đặc biệt, thầy đã phải động viên, hỗ trợ sinh viên rất nhiều để duy trì động cơ học tập vì khóa học thí nghiệm là giờ học tự nguyện, ngoài giờ chính khoá.

Lê & al. (2008) đề cập tới quan hệ tương tác giữa các đối tượng trong quá trình học trực tuyến. Do đặc thù của dạy-học trực tuyến thường ít các mối quan hệ trực tiếp, các tác giả đã đề xuất một mô hình học trực tuyến dựa trên nhu cầu của người học, hỗ trợ cho 3 loại quan hệ tương tác: người học với học liệu (cung cấp kiến thức chuẩn), người học với thầy hướng dẫn (cung cấp kiến thức chuyên gia) và cá nhân người học với nhóm người học. Theo mô hình này, hoạt động học gồm có 3 loại: tự học, học theo chủ đề và hoạt động nhóm. Vai trò của thầy hướng dẫn sẽ rất quan trọng khi học theo chủ đề vì thầy là người quyết định chọn nội dung dạy phù hợp với nhu cầu của người học và yêu cầu của chương trình. Với hoạt động tự học và học với nhóm, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả học như động cơ, điều kiện sống, thời gian dành cho học trực tuyến, phương pháp của người học...

Pham & al. (2013) đã tiến hành điều tra một khoá học ngoại ngữ trực tuyến khác với 259 sinh viên học tiếng Anh năm thứ I của Trường Đại học Hà Nội (ĐHHN). Đây là phần mềm học tiếng Anh trực tuyến English Discoveries Online (EDO) được ứng dụng cho toàn bộ sinh viên học tiếng Anh của Trường ĐHHN từ năm 2006. Các câu hỏi nghiên cứu của nhóm tập trung chủ yếu vào mối quan hệ tương tác giữa người học và nội dung học. Qua đây cho thấy người học đánh giá cao các nội dung nghe và ngữ pháp vì hai nội dung này không được luyện tập nhiều trên lớp truyền thống. Để có thêm hứng thú, người học mong muốn có những nội dung học hài hước, vui vẻ và đa dạng hơn. Ngoài ra, cần điều chỉnh nội dung học phù hợp với nhu cầu của người học và đưa các nội dung đã học vào bài kiểm tra cuối khoá. Các tác giả của nhóm nghiên cứu cho biết quan hệ tương tác thầy-trò trong hệ thống này chưa phong phú, chủ yếu dừng ở việc thầy giao bài tập, bài viết và một số trao đổi qua thư nội bộ của hệ thống.

Dinh & Dao (2013) nghiên cứu một khía cạnh khác trong dạy-học trực tuyến, đó là yếu tố tâm lý của người học. Hai giảng viên-nghiên cứu viên đã tiến hành khảo sát với khoảng 200 sinh viên và giảng viên của 3 trường đại học tại Việt Nam. Theo kết quả nghiên cứu này, sinh viên dành rất nhiều thời gian cho việc đọc tin, gửi email, vào các mạng xã hội và các diễn đàn. Do đó, một trong những khuyến cáo của hai tác giả là liên kết trang web học ngoại ngữ với các mạng xã hội hoặc xây dựng một cộng đồng những người bạn học trực tuyến trong cùng một khoá học. Tuy nhiên, nghiên cứu này không đề cập cụ thể tới mối quan hệ tương tác thầy-trò và hoạt động hướng dẫn học.

4.2. Dạy-học trực tuyến Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020

Từ năm 2011, khi Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020[1] chính thức được triển khai, các chương trình bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh trên toàn quốc đã quy định số tiết dạy để nâng 01 bậc năng lực ngoại ngữ là 400 tiết trong đó có 100 tiết tự học với máy tính, đồng nghĩa với việc phải sử dụng phần mềm học ngoại ngữ. Tuy nhiên, 100 tiết tự học này được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện, khả năng và kinh nghiệm của giảng viên tại từng cơ sở bồi dưỡng. Có đơn vị coi đây là giờ tự học, giao bài và chữa bài trực tiếp trên lớp theo kiểu truyền thống. Có đơn vị dùng phần mềm không nối mạng Internet, cài đặt vào các máy tính của trường hoặc dùng mạng nội bộ, sau đó đưa học viên vào tự học theo giờ tại các phòng máy tính đa phương tiện, có một giáo viên ngồi hướng dẫn chung cho cả phòng. Một số trường đào tạo chuyên ngữ đã có kinh nghiệm dạy-học ngoại ngữ trực tuyến sử dụng các phần mềm trực tuyến với sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn. Các phần mềm đang được sử dụng phổ biến là: Dyned, Langmaster, Language School, EDO (English Discoveries Online). Trong trường hợp sử dụng phần mềm trực tuyến, cần tận dụng tối đa các điểm mạnh của phần mềm này, đó là có sự trao đổi, kèm cặp của thầy thông qua các công cụ quản lý lớp, giao tiếp và kiểm tra đánh giá. Muốn vậy, cả thầy hướng dẫn và học viên đều phải qua tập huấn: thầy được tập huấn về phương pháp hướng dẫn học trực tuyến và sử dụng phần mềm, học viên tập huấn về sử dụng các công cụ và phương pháp học.

Ứng dụng một phần mềm dạy-học ngoại ngữ trực tuyến không phải là điều dễ dàng do nhiều lý do: điều kiện cơ sở hạ tầng, chủ trương chính sách, động lực và thái độ của người dạy và người học, chất lượng của các hệ thống phần mềm.

Về cơ sở hạ tầng viễn thông, Việt Nam là một quốc gia có tốc độ phát triển nhanh. Theo Báo cáo tổng kết năm 2013 của Bộ Thông tin và Truyền thông, số lượng người sử dụng Internet là khoảng 31 triệu người trong đó số người sử dụng băng thông rộng (xDSL) là 5,17 triệu thuê bao, số người sử dụng điện thoại di động là 105 triệu thuê bao. Sắp tới, tập đoàn Viettel cam kết sẽ lắp đặt cáp quang cho 100% các trường học tại Việt Nam. Với xu hướng này, việc sử dụng mạng Internet hầu như chỉ còn là vấn đề của một số vùng sâu, vùng xa hẻo lánh.

Về chủ trương chính sách, Đề án NNQG 2020 đã triển khai nhiều kế hoạch hoạt động cụ thể, không chỉ nhắm tới việc nâng cao năng lực ngoại ngữ của giáo viên ngoại ngữ mà còn bồi dưỡng phương pháp sư phạm (từ năm 2011) và đặc biệt là ứng dụng CNTT trong giảng dạy ngoại ngữ (từ năm 2014). Điều này chứng tỏ phần nào ý chí và quyết tâm của Bộ GD&ĐT trong đổi mới phương pháp dạy-học ở mọi cấp độ: phổ thông, cao đẳng, đại học. Giáo viên ngoại ngữ có thể là lực lượng tiên phong, thử nghiệm việc ứng dụng CNTT trong dạy học, trước khi tiến hành cho giáo viên các môn học, ngành học khác. Kinh phí ngân sách của ĐA 2020 cũng có những mục chi rất rõ ràng cho các hoạt động này: mua trang thiết bị dạy học ngoại ngữ và phần mềm, học liệu; bồi dưỡng ứng dụng CNTT, chi tiền giảng dạy cho các giáo viên hướng dẫn học trực tuyến (100 tiết hướng dẫn tự học trong một chương trình 400 tiết). Tuy nhiên, từ chủ trương tới thực tế thực hiện tại các địa phương và cơ sở đào tạo vẫn còn nhiều điều chưa được như mong muốn. Ví dụ, theo Báo cáo năm 2013 về Khai thác ứng dụng CNTT và trang thiết bị cơ sở vật chất trong dạy-học ngoại ngữ của Ban Quản lý đề án ngoại ngữ quốc gia 2020, kinh phí dành cho mua phần mềm, nguồn học liệu mở chỉ chiếm 1% trong tổng kinh phí đầu tư cho trang thiết bị học ngoại ngữ trong 3 năm từ năm 2011 đến năm 2013. Điều này chứng tỏ các phần mềm dạy-học vẫn chưa được quan tâm đúng mức và ứng dụng mạnh mẽ. Lý do chính theo chúng tôi là do các địa phương không có đủ thông tin; lãnh đạo, cán bộ các phòng kế hoạch tài chính, cán bộ chuyên môn lúng túng vì không biết rõ về các phần mềm hay nguồn học liệu cần mua, mua rồi không biết làm thế nào để khai thác hiệu quả. Thêm vào đó, việc mua thiết bị, phần mềm đôi khi được tiến hành không có ý kiến của nhóm chuyên gia giáo viên ngoại ngữ là những người làm chuyên môn và biết rất rõ mình cần gì, học sinh cần gì.

Ở cấp cơ sở, các trường cũng chưa có chính sách tổng thể để đưa CNTT vào giảng dạy. Tất cả những người tham gia đào tạo trực tuyến đều biết thời gian đầu tư cho công việc này là rất nhiều, đặc biệt là giai đoạn mới bắt đầu: chữa bài, trả lời thư điện tử, theo dõi và trả lời các câu hỏi trên diễn đàn, động viên, hướng dẫn học, tìm tài liệu bổ trợ... Nếu các công việc này không được định lượng rõ ràng và được thừa nhận chính thức, chính sách thù lao không có thì khó động viên được giáo viên tham gia dạy trực tuyến vì giáo viên có ứng dụng hay không có ứng dụng CNTT đều hưởng chế độ đãi ngộ như nhau.

Động lực và thái độ của người dạy và người học cũng là một yếu tố cần thời gian để thay đổi. Theo Bertrand (2003), kinh nghiệm của thế giới cho thấy những hệ thống dạy-học từ xa ứng dụng hiệu quả thường được thừa hưởng từ các sáng kiến, dự án nghiên cứu đổi mới của một số giáo viên khi đưa dần các công cụ công nghệ vào quá trình dạy-học. Điều này đồng nghĩa với việc các cá nhân tích cực ứng dụng dạy-học trực tuyến trong các cơ sở giáo dục phải được động viên kịp thời để phát huy vai trò tiên phong, mở đường để các giáo viên khác đi theo. Động lực trong trường hợp này là sự sáng tạo của những người tiên phong và mong muốn không bị tụt hậu hoặc được học cái mới của những người đi theo.

Một yếu tố khác ảnh hưởng tới thái độ của người học là ý thức của họ về mục tiêu và giá trị của các hoạt động tự học. Trong quá trình thực hiện đề án 2020, Trường Đại học Hà Nội đã hướng dẫn tự học trực tuyến cho khoảng gần 2000 giáo viên tiếng Anh với phần mềm tiếng Anh EDO. Đây là phần mềm khá đầy đủ về mặt kỹ thuật với các công cụ quản lý lớp học, giao tiếp, kiểm tra đánh giá. Tuy nhiên, luôn có khoảng 5% học viên không hoàn thành khối lượng bài tập trực tuyến được giao sau nhiều lần nhắc nhở, 40% chỉ hoàn thành được 80% khối lượng bài được giao (để đủ điều kiện xét thi cuối kỳ), 55% hoàn thành được 100% hoặc hơn khối lượng bài tập được giao. Học viên có trình độ năng lực còn thấp (A1, A2) thường làm bài đầy đủ hơn học viên có trình độ cao hơn (B1, B2); có thể vì họ biết rằng cần phải cố gắng nhiều vì từ A1, A2 lên tới B2 theo yêu cầu đạt chuẩn của giáo viên tiếng Anh tiểu học và trung học cơ sở còn là một chặng đường dài. Các số liệu tạm thống kê nêu trên cho thấy học viên tham gia bồi dưỡng của ĐA 2020 chưa thực sự nhiệt tình với các phần mềm dạy-học ngoại ngữ trực tuyến; có tới 45% số học viên chỉ hoàn thành 80% lượng bài được giao hoặc không làm đủ bài tập. Dù chưa có nghiên cứu chính thức nhưng từ quan sát thực tế, chúng tôi có thể thấy trước một vài lý do giải thích hiện tượng này: học viên quá bận vì vừa phải đi bồi dưỡng vừa phải tham gia giảng dạy nên không có thời gian tự học; một số người ở vùng sâu vùng xa không có máy tính nối mạng ở nhà, phải học ở một chỗ khác và rất có thể là do động cơ học và mục tiêu học chưa phù hợp. Do sức ép của vị trí công việc, của xã hội, sợ mất uy tín và thể diện với đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh, nhiều giáo viên không coi đi bồi dưỡng là cơ hội để nâng cao năng lực ngoại ngữ thực sự mà coi đây như một sự bắt buộc và cố gắng đạt chuẩn bằng cách luyện thi thật nhiều, hy vọng lúc thi "trúng tủ". Mục tiêu của cả quá trình học chỉ còn là thi đạt B2 hay C1! Thường thì chưa học được một nửa khoá học, học viên đã yêu cầu giáo viên cho luyện thi mặc dù việc phổ biến, làm quen với dạng thức đề thi chỉ tiến hành vào tuần cuối cùng của khóa bồi dưỡng (khoảng 15-20 tiết). Có thể vì các sức ép nêu trên và vì quan niệm thực dụng sai lệch về mục tiêu học mà học viên không thấy được giá trị đích thực của các phần mềm học ngoại ngữ và tận dụng tối đa để học một cách bền vững cho tương lai nghề nghiệp lâu dài (professional development, lifelong learning).

Cuối cùng, chất lượng các hệ thống phần mềm dạy-học ngoại ngữ cũng có ảnh hưởng tới việc sử dụng hiệu quả phần mềm này. Các chuyên gia về phần mềm khuyến cáo cần nghiên cứu kỹ trước khi quyết định lựa chọn một phần mềm. Xét trên bình diện kỹ thuật, nên chọn các phần mềm đơn giản, thân thiện, đầy đủ chức năng cơ bản nhất và không yêu cầu đường truyền có tốc độ quá cao. Phần mềm cũng cần có độ linh hoạt để giáo viên hướng dẫn có thể thay đổi, bổ sung một số nội dung học hay tài liệu bổ trợ. Xét trên bình diện nội dung học thuật và sư phạm, nội dung giảng dạy trên phần mềm và cách thức tổ chức hoạt động học cũng phải phù hợp với đặc thù môn học và phương pháp dạy-học. Ví dụ như một số trường theo phương pháp dạy-học Anh-Mỹ thường tổ chức hoạt động dạy-học theo phương pháp tình huống hoặc dự án (đặc biệt phù hợp với đào tạo ngành quản trị kinh doanh hoặc kỹ sư) trong khi nhiều trường đại học ở châu Âu dạy theo phương pháp thuyết giảng và lấy khái niệm lý thuyết là trung tâm. Với dạy-học ngoại ngữ, cần chú ý xem có đầy đủ các hoạt động nghe, nói, đọc viết, từ vựng, ngữ pháp... và các công cụ kỹ thuật cho phép học viên nộp bài nói, viết dưới dạng tự luận và giáo viên chữa loại bài này không. Với các trình độ thấp như A1, A2, cần có thêm từ điển song ngữ và giải thích ngữ pháp bằng tiếng Việt. Tóm lại, hệ thống phần mềm học ngoại ngữ thường là hệ thống phức tạp nhất trong số các phần mềm học trực tuyến vì cần hỗ trợ cho tất cả các hình thức giao tiếp của ngôn ngữ như nghe, nói, đọc, viết với mọi loại tài liệu như văn bản, hình ảnh, âm thanh, nghe-nhìn và mọi loại hình tổ chức hoạt động như làm việc cá nhân, làm việc nhóm nhỏ, làm việc tập thể theo lớp hoặc đôi khi là cả một cộng đồng hàng trăm người.

5. Kết luận

Hướng dẫn học từ xa nói chung và học trực tuyến trong dạy-học ngoại ngữ nói riêng là một lĩnh vực còn mới mẻ ở Việt Nam. Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 là một chủ trương đúng đắn, cho phép giáo viên ngoại ngữ tiếp cận với các công nghệ và phương thức dạy học mới, tăng cường cơ hội học tập cho các học viên ở vùng xa xôi, hẻo lánh. Trong mọi đề án, con người bao giờ cũng là nhân tố quan trọng nhất. Điều cần nhất là nhà quản lý và người học ý thức được ích lợi của học ngoại ngữ để có động cơ học đúng đắn, người dạy ý thức được mục tiêu của giảng dạy và được tập huấn về phương pháp dạy mới có ứng dụng công nghệ. Các yếu tố ảnh hưởng khác như chính sách, cơ sở vật chất, điều kiện kỹ thuật, phần mềm... đều có thể giải quyết được với điều kiện của Việt Nam hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Bertrand, I. (2003). Les dispositifs de FOAD dans les établissements d'enseignement supérieur: transfert ou intégration? Distances et savoirs, 1, 61-78. doi: 10.3166/ds.1.61-78.
  2. Bourdet, J-F. (2007). Tutorat en ligne et création d'un espace formatif. Alsic, 10(1), 23-32. Retrieved f-rom http://alsic.revues.org/522?lang=en
  3. Delaby, A. (2006). Créer un cours en ligne. De l’analyse de l’environnement à la réalisation technique. Paris, France: Éditions d’Organisation.
  4. Develotte, C. & Mangenot, F. (2004). Tutorat et communauté dans un campus numérique non collaboratif. Distances et savoirs, 2004/2(2), 309-333. doi: 10.3166/ds.2.309-333.
  5. Dinh, L. G. & Dao, T. P. (2013). Psychological analysis of online language learners and related solutions for online language teaching. Conference paper, GLoCALL 2013, 28-30 November 2013, Danang, Vietnam.
  6. Do, Q. H. (2008). Concevoir un enseignement hybride du français, le « Pratique de la langue III », pour les étudiants en deuxième année du Département de français, Université de Hanoï. Mémoire de master professionnel UTICEF, Université Louis Pasteur à Strasbourg, France.
  7. Ernst, C. (2008). E-learning: Conception et mise en oeuvre d’un enseignement en ligne. Guide pratique pour une e-pédagogie. Toulouse, France: Cépaduès-Éditions.
  8. Gazaille, M. (2010). Tutorat à distance et développement des compétences professionnelles des futurs enseignants d’anglais langue seconde. Questions Vives, 7(14). doi: 10.4000/questionsvives.509.
  9. Glikman, V. (2002). Des cours par correspondance au « e-learning ». Panorama des formations ouvertes et à distance. Paris, France: Presses universitaires de France.
  10. Guillemet, P. & Pelletier, S. (2005). Le tutorat à la Télé-université. Distances et savoirs, 2005/2(3), 207-230. doi: 10.3166/ds.3.207-230.
  11. Le, D. L., Nguyen, A. T., Nguyen, D. T., Hunger, A. (2008). Learner Profile supports interaction between objects in e-Learning System. Conference paper, The 7th European Conference on e-Learning (ECEL 2008), 6-7 November 2008, Cyprus.
  12. Pham, T., Tang, H., Nguyen, V. (2013). Learner – Content Interaction in an Online English learning Course: A Case Study. Conference paper, The 5th “Engaging with Vietnam – An Interdisciplinary Dialogue” conference, 16-17 December 2013, Thai Nguyen, Vietnam.
  13. Poittevin, S., Jolly, V., & Nimier, M. L. (2007). Glossaire de la formation ouverte à distance, FOAD à la carte. GIP ARIFOR. Retrieved f-rom http://foad.arifor.fr.
  14. Sheils, J. (1996). La communication dans la classe de langue. Strasbourg, France: Editions du Conseil de l’Europe.
  15. Tardif, J. (1992). Pour un enseignement stratégique. L’apport de la psychologie cognitive. Montréal, Canada: Les éditions LOGIQUES.
  16. Vulbeau, A. (2007). Le tutorat pédagogique.
Informations sociales, 2007/2(138), 65-66. Retrieved f-rom http://www.cairn.info/revue-informations-sociales-2007-2-page-65.htm
  17. Conseil de l'Europe (2001). Un cadre européen commun de référence pour les langues: apprendre, enseigner, évaluer. Paris, France: Didier.
  18. Quyết định 1400/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/2008 về việc Phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020".
 


[1] Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 có tên gọi đầy đủ là "Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống quốc dân giai đoạn 2008-2020", tên gọi tắt là Đề án 2020, được phê duyệt theo Quyết định 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ. 

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Cúc Phương (Trường Đại học Hà Nội)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

Lượt truy cập
  • Đang truy cập29
  • Hôm nay1,058
  • Tháng hiện tại22,794
  • Tổng lượt truy cập2,114,443
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây