Hướng dẫn học ngoại ngữ trực tuyến - Phần 2

Thứ ba - 23/09/2014 22:44
2. Các thành tố của hệ thống dạy-học trực tuyến

2.1. Mô hình dạy học trực tuyến

Mô hình dạy-học trực tiếp theo kiểu truyền thống thường được hiểu gồm có 3 thành tố chính: người dạy, người học và tài liệu học. Ba yếu tố này có quan hệ tương tác với nhau trong một môi trường dạy-học đa dạng tùy theo chính sách, văn hóa quản lý của từng cơ sở dạy học hoặc tùy theo điều kiện văn hóa, xã hội của từng địa phương hay thể chế của một quốc gia (Hình 1).
Mô hình dạy-học trực tuyến cũng gồm thành 3 cấu thành chính: người hướng dẫn học, người học và hệ thống dạy-học trực tuyến. Do đặc thù công nghệ, chúng tôi đề xuất thêm vào mô hình này hai điều kiện liên quan đến môi trường dạy-học là chính sách ứng dụng CNTT và hạ tầng kỹ thuật CNTT (Hình 2).
   
Hình 1: Mô hình dạy và học trực tiếp (truyền thống)
 
Hình 2: Mô hình dạy và học trực tuyến
 
Trong Hình 2, yếu tố quan trọng nhất là người học vì nhiều lý do. Một là, giáo dục hiện đại chuyển hướng lấy người học làm trung tâm thay vì chỉ quan tâm đến hoạt động giảng dạy của người thầy. Hai là, hệ thống đào tạo trực tuyến ra đời là để đáp ứng các nhu cầu học và điều kiện học của từng cá nhân và đối tượng học ngày càng đa dạng (Bourdet, 2007).

So với dạy-học trực tiếp, người học trực tuyến gặp phải một số khó khăn đáng kể có thể dẫn tới bỏ học như: thiếu thời gian, sự cô lập, khả năng tự chủ của người học, không có thầy hướng dẫn hoặc thiếu sự quan tâm của thầy hướng dẫn và đặc biệt là thiếu các mối quan hệ xã hội trực tiếp với thầy hướng dẫn và bạn học (Glikman, 2002).

Theo chúng tôi, các khó khăn chủ đạo này của người học có thể được khắc phục phần lớn nhờ vai trò của thầy hướng dẫn và sự hỗ trợ của các công cụ có trong hệ thống phần mềm dạy-học trực tuyến. Ví dụ, sự cô lập có thể giải quyết bằng làm việc nhóm (tập hợp những người có chung mục tiêu, khá giống nhau về phương pháp làm việc, cảm thấy hợp tính cách thành một nhóm để thực hiện chung một số nhiệm vụ…). Nguyên tắc tạo nhóm giống như nguyên tắc sư phạm áp dụng với dạy học trực tiếp. Khả năng tự chủ của người học phụ thuộc phần lớn vào động cơ học tập, một phần nữa vào cách thiết kế bài học và sự hướng dẫn của thầy. Động cơ học tập gồm có các động cơ nội tại (học vì yêu thích, vì quan tâm) và động cơ tác động từ bên ngoài (học vì phần thưởng, vì sợ bị phạt, vì áp lực xã hội, vì bằng cấp…). Bên cạnh đó, nếu các bài học được thiết kế hợp lý với các bài thực hành tăng dần độ khó, dẫn dắt người học làm chủ dần các nội dung và kỹ năng cần học thì người học sẽ không có cảm giác bị nản lòng trước các bài quá khó và được luyện để tăng dần độ tự chủ (Tardif, 1992). Sự hỗ trợ của thầy hướng dẫn cũng có vai trò rất quan trọng, nhất là đối với các học viên có khả năng tự chủ không cao. Thầy hướng dẫn là người giúp học viên xác định mục tiêu cần học, phương pháp học đồng thời cũng là người cho học viên biết điểm yếu, điểm mạnh của mình và động viên để duy trì hứng thú học. Các mối quan hệ xã hội trực tiếp có thể thay thế bằng các mối quan hệ xã hội ảo thông qua nhiều công cụ hỗ trợ các nhóm trao đổi, chia sẻ thông tin là diễn đàn, email, chat (viết, nghe, nghe-nhìn). Facebook là ví dụ về một công cụ trực tuyến duy trì được thành công các mối quan hệ xã hội ảo. Lớp học ảo chính là một xã hội thu nhỏ. Do đó, yếu tố tâm lý xã hội phải được tính đến để hệ thống phần mềm không chỉ là nơi học viên tiếp thu kiến thức học thuật mà còn là nơi làm quen với bạn mới, trao đổi, chia sẻ cảm xúc vui, buồn. Phần mềm nên có một số chức năng chia sẻ để duy trì mối quan hệ xã hội này. Riêng về yếu tố thời gian, thiếu thời gian hoặc không bố trí được thời gian học phù hợp là một trong những lý do làm học viên bỏ học. Trường hợp học viên thực sự không có thời gian học, thầy hướng dẫn không thể hỗ trợ được nhưng nếu lý do là vì học viên không biết cách thu xếp thời gian thì thầy hướng dẫn có thể tư vấn về cách tổ chức thời gian hợp lý, nên học gì trước, học gì sau hoặc tập trung vào học cái gì.

2.2. Cấu thành của hệ thống phần mềm dạy-học trực tuyến

Theo Ernst (2008), hệ thống phần mềm dạy-học trực tuyến có thể gồm 3 cấu thành chia theo 3 nhóm chức năng: công cụ quản lý, công cụ giao tiếp và công cụ kiểm tra đánh giá. Chúng tôi bổ sung thêm một cấu thành thứ 4 là tài nguyên học tập.

Tài nguyên học tập bao gồm các bài giảng lý thuyết, bài tự học, bài tập thực hành cũng như các nguồn tư liệu khác nhau mà học viên có thể tự khai thác hoặc khai thác theo sự hướng dẫn của thầy (từ điển, bài đọc thêm, các đường liên kết...). Tùy theo phần mềm, các bài giảng, bài học có thể được thiết kế sẵn theo một chương trình cố định. Thầy và trò không tác động thay đổi được các nội dung này, chỉ có thể quyết định học hay bỏ một nội dung. Đây thường là các phần mềm thương mại có mã nguồn đóng. Ngược lại, những phần mềm mã nguồn mở có độ linh hoạt lớn như Moodle cho phép thầy từ một chương trình tổng thể, chọn nội dung học phù hợp với nhu cầu của từng nhóm đối tượng, cho nội dung này xuất hiện hoặc ẩn nội dung này đi. Thầy cũng có thể tự thiết kế các bài giảng hay bài bổ trợ theo các kịch bản học phù hợp.

Công cụ quản lý được thiết kế cho nhà quản lý và chủ yếu cho thầy hướng dẫn học trực tuyến để có thể theo dõi được việc ghi danh, quá trình học và quản lý được nội dung học. Kể từ khi học viên ghi danh, thầy hướng dẫn phải theo dõi được quá trình học của học viên, các hoạt động mà học viên đã làm. Một phần mềm tốt sẽ cho phép «theo vết» học viên trong mọi hoạt động để xem ai đã thực hiện một hoạt động, vào lúc nào, bao nhiêu lâu, bao nhiêu lần và đã hoàn thành công việc được bao nhiêu phần trăm. Nếu muốn, giáo viên hướng dẫn có thể đánh giá chuyên cần theo các thông số này. Về quản lý nội dung học, các công cụ có thể tích hợp vào phần mềm là từ điển hoặc bảng thuật ngữ (glossary), biên mục (index) và công cụ tìm kiếm (search engine). Với các phần mềm dạy-học ngoại ngữ, từ điển có thể tồn tại dưới hai dạng như từ điển điện tử nằm ở một bên lề trái/phải của trang web hoặc xem giải thích nghĩa từ bằng cách chỉ con trỏ vào chính từ đó trong văn bản, nghĩa của từ hoặc hình ảnh minh họa của từ sẽ hiện lên trong một ô nhỏ ngay cạnh từ đó.

Công cụ giao tiếp cho phép tất cả các thành viên của lớp/khoá học và thầy hướng dẫn liên hệ với nhau trong toàn bộ quá trình học. Có thể chia thành các công cụ hỗ trợ hoạt động giao tiếp không đồng thời (asynchronous activites) và các hoạt động đồng thời (synchronous activities). Hoạt động không đồng thời là những hoạt động mà hai người giao tiếp thực hiện vào những thời điểm khác nhau. Ví dụ, học viên gửi câu hỏi cho thầy nhưng vào thời điểm đó thầy không trả lời được ngay lập tức do không mở mạng hoặc đang bận một việc khác. Các công cụ hỗ trợ cho hoạt động này là tin nhắn, thư điện tử, diễn đàn và lịch làm việc/nhắc việc. Hoạt động đồng thời là các hoạt động mà những thành viên đang nối mạng có thể thực hiện được cùng một lúc với nhau, khá giống với hoàn cảnh giao tiếp thực. Các công cụ hỗ trợ là chat (viết, nói), truyền hình từ xa (videoconferencing) hoặc các ứng dụng chia sẻ như bảng tương tác trực tuyến (hai người ngồi ở hai nơi có thể cùng nhìn thấy một cái bảng, cùng viết hoặc xoá bảng) hay ứng dụng wiki dùng cho các hoạt động hợp tác (người sau có thể thay đổi phần đã viết của người trước).

Công cụ kiểm tra đánh giá gồm có các công cụ tự đánh giá và đánh giá của thầy hướng dẫn. Với hoạt động tự đánh giá, có thể có dạng câu hỏi trắc nghiệm đi kèm với câu trả lời tự động cho các kỹ năng nghe, đọc, ngữ pháp, từ vựng. Đôi khi, câu trả lời không chỉ đơn giản là một câu trả lời ngắn hiện ngay lên màn hình mà có thể là một đường liên kết (link) dẫn tới một tài liệu khác mà học viên phải đọc để so sánh với bài làm của mình. Ngoài ra, còn có một công cụ khác là không gian nộp bài nơi học viên có thể nộp bài tự luận dưới dạng viết hoặc nói. Tuỳ theo hệ thống phần mềm trực tuyến, học viên có thể phải sử dụng các phần mềm phụ trợ, ví dụ như đánh máy bài viết với phần mềm soạn thảo văn bản hoặc ghi âm bài nói bằng một phần mềm khác, sau đó mới gửi lên không gian nộp bài. Nếu hệ thống phần mềm thiết kế tốt, trên hệ thống sẽ có ngay công cụ cài đặt sẵn để viết bài hoặc ghi âm trực tiếp; sau khi hoàn thành học viên chỉ cần nhất nút "gửi" để lưu bài vào hệ thống.

Khi lựa chọn các phần mềm ngoại ngữ, cần phân biệt các phần mềm tự học ngoại ngữ và phần mềm dạy-học ngoại ngữ. Trên thị trường có rất nhiều phần mềm tự học ngoại ngữ mà người học có thể cài đặt vào máy tính, không cần nối mạng. Trên mạng cũng có rất nhiều trang web học ngoại ngữ miễn phí, thường không có thầy hướng dẫn, một vài trang web có thêm công cụ diễn đàn để học viên trao đổi, người quản trị mạng có thể tổ chức hoạt động trao đổi theo các chủ đề. Phần lớn các hệ thống phần mềm có thầy hướng dẫn học đều là phần mềm trực tuyến, yêu cầu người học phải ghi danh để có tài khoản và thường là các phần mềm thu phí. Về mặt nguyên tắc, một phần mềm tốt ngoài nội dung được biên soạn tốt còn phải là một hệ thống dễ sử dụng, thân thiện để người học có thể sử dụng một cách bản năng, không cần phải tập huấn nhiều.

Về hạ tầng kỹ thuật CNTT và chính sách ứng dụng CNTT, đây là những điều kiện cần và đủ để hoạt động dạy-học trực tuyến có thể thực hiện. Đơn giản như nếu hạ tầng viễn thông yếu, đường truyền mạng internet chậm thì việc dạy và học trực tuyến không thể tiến hành. Chính sách ứng dụng CNTT cũng đóng vai trò quan trọng vì có ảnh hưởng trực tiếp tới nhân lực triển khai dạy-học trực tuyến đối với các cơ sở đào tạo đang thực hiện dạy-học trực tiếp. Không phải giáo viên nào cũng hứng thú áp dụng công nghệ mới. So với mô hình giảng dạy truyền thống, giáo viên dạy trực tuyến phải đầu tư nhiều thời gian, công sức. Nếu không có chính sách đãi ngộ phù hợp, sẽ không thể động viên giáo viên tham gia hoạt động này.
Chức năng và nhiệm vụ của người hướng dẫn học sẽ được trình bày cụ thể ở phần tiếp theo.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Bertrand, I. (2003). Les dispositifs de FOAD dans les établissements d'enseignement supérieur: transfert ou intégration? Distances et savoirs, 1, 61-78. doi: 10.3166/ds.1.61-78.
  2. Bourdet, J-F. (2007). Tutorat en ligne et création d'un espace formatif. Alsic, 10(1), 23-32. Retrieved f-rom http://alsic.revues.org/522?lang=en
  3. Delaby, A. (2006). Créer un cours en ligne. De l’analyse de l’environnement à la réalisation technique. Paris, France: Éditions d’Organisation.
  4. Develotte, C. & Mangenot, F. (2004). Tutorat et communauté dans un campus numérique non collaboratif. Distances et savoirs, 2004/2(2), 309-333. doi: 10.3166/ds.2.309-333.
  5. Dinh, L. G. & Dao, T. P. (2013). Psychological analysis of online language learners and related solutions for online language teaching. Conference paper, GLoCALL 2013, 28-30 November 2013, Danang, Vietnam.
  6. Do, Q. H. (2008). Concevoir un enseignement hybride du français, le « Pratique de la langue III », pour les étudiants en deuxième année du Département de français, Université de Hanoï. Mémoire de master professionnel UTICEF, Université Louis Pasteur à Strasbourg, France.
  7. Ernst, C. (2008). E-learning: Conception et mise en oeuvre d’un enseignement en ligne. Guide pratique pour une e-pédagogie. Toulouse, France: Cépaduès-Éditions.
  8. Gazaille, M. (2010). Tutorat à distance et développement des compétences professionnelles des futurs enseignants d’anglais langue seconde. Questions Vives, 7(14). doi: 10.4000/questionsvives.509.
  9. Glikman, V. (2002). Des cours par correspondance au « e-learning ». Panorama des formations ouvertes et à distance. Paris, France: Presses universitaires de France.
  10. Guillemet, P. & Pelletier, S. (2005). Le tutorat à la Télé-université. Distances et savoirs, 2005/2(3), 207-230. doi: 10.3166/ds.3.207-230.
  11. Le, D. L., Nguyen, A. T., Nguyen, D. T., Hunger, A. (2008). Learner Profile supports interaction between objects in e-Learning System. Conference paper, The 7th European Conference on e-Learning (ECEL 2008), 6-7 November 2008, Cyprus.
  12. Pham, T., Tang, H., Nguyen, V. (2013). Learner – Content Interaction in an Online English learning Course: A Case Study. Conference paper, The 5th “Engaging with Vietnam – An Interdisciplinary Dialogue” conference, 16-17 December 2013, Thai Nguyen, Vietnam.
  13. Poittevin, S., Jolly, V., & Nimier, M. L. (2007). Glossaire de la formation ouverte à distance, FOAD à la carte. GIP ARIFOR. Retrieved f-rom http://foad.arifor.fr.
  14. Sheils, J. (1996). La communication dans la classe de langue. Strasbourg, France: Editions du Conseil de l’Europe.
  15. Tardif, J. (1992). Pour un enseignement stratégique. L’apport de la psychologie cognitive. Montréal, Canada: Les éditions LOGIQUES.
  16. Vulbeau, A. (2007). Le tutorat pédagogique.
Informations sociales, 2007/2(138), 65-66. Retrieved f-rom http://www.cairn.info/revue-informations-sociales-2007-2-page-65.htm
  17. Conseil de l'Europe (2001). Un cadre européen commun de référence pour les langues: apprendre, enseigner, évaluer. Paris, France: Didier.
  18. Quyết định 1400/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/9/2008 về việc Phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020".

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Cúc Phương (Trường Đại học Hà Nội)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây